Share this...
Share on FacebookShare on Google+Tweet about this on TwitterShare on LinkedInDigg thisPin on PinterestShare on TumblrShare on RedditBuffer this pagePrint this pageEmail this to someoneFlattr the authorShare on XingShare on YummlyShare on VKShare on StumbleUpon

BƠI LỘI VIỆT NAM

QUA CÁC THỜI KỲ PHÁT TRIỂN

Lịch sử bơi lội Việt Nam thời kỳ cổ đại

Theo tài liệu khảo cổ học thì Việt Nam đã có nền văn hóa Đông Sơn (cách đây 5000 năm). Qua những tư liệu này đã chứng minh: Việt Nam cũng là cái nôi của loài người. Qua các cuốn lịch sử của Đào Duy Anh, Trần Huy Liệu… đã phần nào chứng minh dân tộc ta có lịch sử dựng nước và giữ nước hơn 4.000 năm.

Với một dân tộc có lịch sử lâu đời, lại nằm ở một vùng đất có khí hậu và địa lý ưu đãi cho bơi lội, với chiều dài hơn 3.000 km bờ biển và 3.112 con sông ngòi, kênh rạch, hàng ngàn hồ ao là một điều kiện thuận lợi cho sự phát triển môn bơi lội.

Bởi lẽ đó, bơi lội Việt Nam đã đi vào truyền thuyết, vào tục ngữ trong đời sống dân gian của nhân dân ta.

Sơn Tinh, Thủy Tinh là chuyện cổ mang tính hiện thực nói lên khả năng chế ngự dòng nước bằng tài bơi lặn của ông cha ta.

Câu tục ngữ: “Có phúc đẻ con biết lội, có tội đẻ con biết trèo” là sự mong muốn con cháu sống trên mảnh đất Việt Nam phải có tài bơi lội trên sông nước.

Song cho đến nay ngoài cuốn sử học Việt Nam của Đào Duy Anh có đoạn: “Dân tộc ta xưa búi tóc xăm mình đi bộ như gió, đi thuyền như ngựa, thoắt đến thoắt đi…” nói lên tài năng trên sông nước của ông cha ta vẫn chưa có chứng cứ khẳng định niên hạn ra đời cho môn bơi lội Việt Nam. Song với cách nhìn biện chứng, chúng ta có thể khẳng định bơi lội ra đời ở Việt Nam cũng rất sớm.

Lịch sử bơi lội Việt Nam thời kỳ cận đại

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta đã ghi lại nhiều chiến công chống giặc ngoại xâm. Năm 938 Ngô quyền đánh tan quân Nam Hán, tướng giặc Hoàng Thao phải chết đuối trên sông bạch Đằng. Năm 1288 Trần Hưng Đạo đánh tan quân Nguyên cũng trên dòng sông lịch sử này. Cửa Hàm Tử, Nến Chương Dương, Trần Quang Khải đánh bại chiến thuyền Nguyên-Mông. Yết Kiêu lặn xuống Lục đầu giang đục thủng hàng chục thuyền chiến của giặc. Thế kỷ 15, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, Bùi Bị, từng đội cỏ tranh trên đồng lầy đánh giặc…

Điều đó cho phép ta khẳng định bơi lội ở Việt Nam thời kỳ cận đại đã khá phát triển. Song sự kìm hãm của chế độ phong kiến, nhất là trong thời kỳ Bắc thuộc, hàng trăm năm nội chiến, nền kinh tế và khoa học kỹ thuật kém đã hạn chế kìm hãm sự phát triển của môn bơi lội nước nhà. Thời kỳ này bơi lội tồn tại được là nhờ sự phát triển tự phát trong cuộc sống của người lao động.

Lịch sử bơi lội Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc

Thực dân Pháp đô hộ nước ta từ cuối thế kỷ 19. Trong khi ông Pie đơ Cu Béctanh là người sáng lập ra Olympic hiện đại (năm 1896) và thế vận hội Olympic lần thứ II năm 1900 tổ chức ngay ở thủ đô Pari của Pháp thì ngay thời đó trên đất nước Việt Nam thuộc địa, chính phủ Pháp thực hiện chính sách ngu dân. Vì vậy một đất nước có hàng triệu dân không có lấy một bể bơi.

Mãi tới đầu năm 1928 thực dân Pháp mới xây dựng xong một bể bơi duy nhất ở Đông Dương dành cho các võ quan và hải quân Pháp tập luyện và thi đấu ở Thủ Đức – Gia định (thuộc Sài Gòn cũ).

Năm 1928 người Việt Nam bắt đầu học bơi thể thao và chẳng bao lâu các kỷ lục Đông Dương do người Pháp lập đã bị hầu hết các danh thủ Việt nam phá như Nguyễn văn Danh, Phạm Văn Đương, Nguyễn Văn Củ…

Tuy vậy từ năm 1928 – 1945 thành tích kỷ lục bơi ở Đông Dương vẫn rất thấp so với Châu Á và thế giới. Người Pháp có xây thêm bể bơi ở Há Nội, đồng thời một số kỷ lục bơi được nâng lên. Hầu như trong 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, chúng chỉ để lại cho ta một nền thể thao bơi lội với 2 bể bơi loại xoàng và một vài cán bộ huấn luyện viên sơ cấp mà thôi.

Lịch sử Bơi lội Việt Nam

Bơi lội Việt Nam trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ (1945 – 1975)

Thời kỳ chống Pháp

Tháng 8/1945 Cách mạng Tháng 8 thành công, trước tình hình chồng chất khó khăn, Bác Hồ vẫn quan tâm tới công tác TDTT nói chung, trong đó có bơi lội. Ngày 27 tháng 3 năm 1946 Bác ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục.

Nha TDTT đã phát động phong trào tập luyện TDTT trong cả nước, trong đó có phong trào tập luyện bơi lội.

Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, bơi lội đã được duy trì và phát triển trong dân quân du kích và các đội quân chủ lực, các đội dân công hỏa tuyến.

Các chiến công của chiến sĩ sông Lô, của Nguyễn Quang Vinh đánh đắm tàu giặc trên sông Đáy, các chiến sĩ của lực lượng chủ lực sư 312, 307 và 320 đã dùng tài bơi lội để đánh sân bay Cát Bi Hải Phòng và các đồn bót địch trên cả nước.

Có thể nói bơi lội trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp đã được các chiến sĩ và nhân dân ta coi như một loại vũ khí quan trọng góp phần làm nên chiến thắng đánh đuổi giặc Pháp giải phóng đất nước.

Thời kỳ chống Mỹ

Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã lập lại hoà bình ở Đông Dương, nhưng đất nước ta lại bị chia cắt làm đôi.

Năm 1958 Nhà nước đã quyết định thành lập Ủy Ban TDTT, đồng thời cử một số cán bộ đi học lớp ngắn hạn ở Trung Quốc.

Năm 1959 cùng với việc cử học sinh đi học Đại học TDTT đầu tiên ở Trung Quốc thì Trường Trung cấp TDTT cũng được thành lập để đào tạo cán bộ thể dục thể thao cho đất nước.

Về bơi lội quần chúng

Ngay sau khi thành lập Ủy ban Thể Dục Thể Thao, ngành TDTT đã triển khai các hoạt động bơi lội sôi nổi như phong trào bơi lội lấy bằng phổ thông, bơi vượt sông Hồng…

Năm 1960 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã vạch ra đường lối cách mạng cho cả nước, trong đó có công tác TDTT. Nghị quyết Đại hội Đảng III nêu rõ: “Phát triển công tác TDTT vì mục đích tăng cường thể chất cho nhân dân, phục vụ sản xuất và quốc phòng…”

Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng III, các nơi sôi nổi phong trào tập luyện thể dục thể thao, trong đó có bơi lội.

Các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Hà, Thanh Hóa… triển khai xây dựng, tu tạo lại hồ bơi, bể bơi. đặc biệt phong trào bơi lội được phát triển mạnh mẽ trong các lực lượng vũ trang.

Trước tình hình đòi hỏi bức bách của phong trào, Hội bơi Việt Nam được thành lập. Ong Kha vạng Cân – Bộ Trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ được mời làm Chủ tịch; Ông Cổ Tấn Chương được bầu làm Tổng thư ký; Ông Nguyễn Hữu Lẫm là trưởng Bộ môn bơi lội của Ủy ban Thể dục Thể thao.

Cũng năm 1963, khóa Đại học TDTT đầu tiên của nước ta được khai giảng, trong đó có 12 sinh viên thuộc chuyên ngành bơi lội.

Ngày 5/8/1964, giặc Mỹ đánh phá miền Bắc, đặt cả nước ta trong tình trạng có chiến tranh. Năm 1956, Ủy ban TDTT đã chuyển hướng hoạt động TDTT vào trọng tâm các môn: Chạy, nhẩy, bơi, bắn, võ, để phục vụ trực tiếpsản xuất và chiến đấu. vì vậy phong trào lan rộng vào nhiều vùng nông thôn, thành thị và lực lượng thanh, thiếu niên, dân quân tự vệ và các lực lượng vũ trang.

Chính phong trào sôi động đó đã góp phần đào tạo nên nhiều vận động viên giỏi và nhiều tài năng trên sông nước để họ trở thành những chiến sĩ hải quân, các chiến sĩ giao thông vận tải thủy, các chiến sĩ đặc công nước góp lửa dội lên đầu thù ở khắp các chiến trường trên cả nước.

Năm 1970 Trung Ương Đảng có chỉ thị 170 về phát triển phong trào TDTT quần chúng. Quán

triệt chỉ thị đó, nhiều nơi đã xây dựng hồ bơi đơn giản, xây dựng các đơn vị toàn xã biết bơi, toàn chi đoàn biết bơi. Đặc biệt sau cuộc thi bơi vượt sông Bạch Đằng truyền thống năm 1970, phong trào tập luyện bơi lội trên sóng biển càng trở nên sôi động hơn.

Trong khi đó các vùng giải phóng ở Miền Nam, việc rèn luyện thể thao nói chung và bơi lội nói riêng cũng được phát triển mạnh mẽ.

Về bơi lội thể thao thành tích cao

Sau khi Ủy Ban TDTT được thành lập, một số huấn luyện viên và vận động viên cũ đã đứng ra thành lập đội bơi lội Hà Nội– hạt nhân và nòng cốt cho đội tuyển quốc gia sau này, như các anh Cổ Tấn Chương, Nguyễn Kim Thể, Nguyễn Hữu Lẫm, Trịnh Căn, Nguyễn Đình Luân, Nguyễn Văn Trọng, Phan Mạnh Hòa…

Năm 1960 chuyên gia Liên Xô Mácslốp giúp đỡ ta huấn luyện.

Cũng trong năm này, kỷ lục Đông Dương cũ đã bị phá và có kỷ lục đạt tới đỉnh cao của Đông Nam Á và Châu Á lúc bấy giờ như kỷ lục 100m bơi ếch của Đổng Quốc Cường năm 1961 với thành tích 1’13”9 (kỷ lục thế giới 1’10”3).

Từ năm 1963 đến năm 1965, hàng năm chúng ta tổ chức hai giải bơi lội toàn miền Bắc ở nông thôn và thành phố. Vì vậy nhiều nơi đã thành lập đội tuyển tỉnh, thành, ngành như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Hà, Quân đội (Hải quân), công an đường sắt, giao thông thủy… Cùng trong thời gian này ngoài các VĐV già chúng ta đã tuyển lựa thêm nhiều các VĐV trẻ đạt thành tích tốt vào đội tuyển Quốc gia. Năm 1964 đội bơi lội nước ta tham dự GANEFO Châu Á, đội chỉ dành được 1 huy chương đồng ở cự ly 100m bơi trường sấp nữ của Đặng Thị Nga (đường sắt). Nhưng đã khích lệ công tác huấn luyện nâng cao nền bơi lội của chúng ta.

Từ năm 1968 trở đi do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan đã dẫn tới sự giải tán đội tuyển quốc gia năm 1970.

Bơi lội Việt Nam từ năm 1975 tới nay

Về phong trào bơi lội quần chúng

Sau khi đất nước thống nhất, Đảng, Chính phủ ta cho phép mở thêm 1 trường Đại học ở phía Nam và trường Trung cấp ở Đà Nẵng. Các Ty, Sở TDTT cũng có các trường năng khiếu. Các trường phổ thông và trung học, đại học đã đưa môn bơi lội vào giảng dạy chính khóa.

Từ những năm 1988 trở lại đây, nền kinh tế thị trường đã bắt đầu phát huy tác dụng, nhất là các tỉnh phía Nam như TP.HCM, Long An… đã nhanh chóng đẩy mạnh hoạt động bơi lội quần chúng. Còn các tỉnh phía Bắc, do đổi mới cơ chế quản lý TDTT có nơi còn quá chậm hoặc trình độ kinh tế thấp… phong trào bơi lội sút kém rõ rệt như Hà Nam Ninh, Hải Hưng, Thái Bình, Hà Tây, Hà Bắc…

Từ năm 1993 đến nay, phong trào bơi lội Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, cả nước ta đã có hàng chục bể bơi được xây dựng ở các tỉnh Thanh Hóa, Quảng Nam, Đà Nẳng, Hà Nội, Tây Ninh, Nam Định, Thái Bình, Vĩnh Phú…

Nhìn tổng thể phong trào bơi lội quần chúng trong những năm gần đây trên phạm vi cả nước vẫn chưa được phát triển mạnh mẽ. Tuy vậy chúng ta vẫn tin tưởng rằng dân tộc ta có truyền thống thượng võ, với khối óc thông minh và với điều kiện địa lý vô cùng thuận lợi cho bơi lội phát triển. Với một đất nước như vậy bơi lội nhất định sẽ phải được phát triển mạnh mẽ.

Về bơi lội thể thao thành tích

Ngay sau ngày giải phóng đất nước do nhận biết được vai trò và tầm quan trọng của thể thao thành tích cao. Nhiều tỉnh, thành, ngành chẳng những đã duy trì mà còn phát triển các đội tuyển của mình. Các huấn luyện viên cơ sở đã tìm tòi nghiên cứu và đã có kinh nghiệm nhất định trong huấn luyện. Do vậy, hàng năm ta vẫn tổ chức được các giải bơi vượt sông Bạch Đằng truyền thống, các giải bơi đội mạnh v..v… Thành tích và kỷ lục ngày càng nâng cao.

Để tham gia Olympic lần thứ XXII năm 1980 ở Matxcơva, Tổng cục TDTT đã quyết định cho thành lập đội tuyển quốc gia vào năm 1978.

Tại Đại hội Thể dục Thể thao thế giới này ta đã phá được nhiều kỷ lục quốc gia, trong đó có kỷ lục bơi 100m trườn sấp của Tô văn Vệ với thành tích 56”75, phá kỷ lục của Trương Ngư cũ năm 1966 là 56”9; kỷ lục 100m ếch của Nguyễn Mạnh Tuấn và Trần Dương Tài v..v…

Năm 1985 Đại hội TDTT toàn quốc đã được tổ chức tại Hà Nội. Trong Đại hội này, môn thi đấu bơi đã có hàng chục kỷ lục quốc gia được lập. Đội bơi thành phố Hồ Chí Minh đã giữ vị trí vô địch toàn quốc.

Năm 1988, Đội tuyển bơi lội Việt Nam lần thứ 2 tham dự Đại hội Olympic.

Tại Đại hội Olympic 24 Sêun (Nam Triều Tiên) chỉ có hai VĐV tham dự và mặc dù không lọt vào chung kết, nhưng đã lập được kỷ lục mới ở Việt Nam với cự ly 200m ếch: 2’39”69 của Quách Hoài nam và 100m bướm 1’07”96 và 200m bướm 2’3”69 của Kiều Oanh. Năm 1990 đội bơi của Việt Nam tham dự Đại hội TDTT Châu Á tổ chức tại bắc Kinh. Dự Đại hội có 3 VĐV (Nguyễn Kiều Oanh, Trương Hải Phong, Trần Vinh Quang), cả 3 VĐV đều lập kỷ lục quốc gia mới.

Năm 1991 chúng ta có 4 vận động viên tham dự SEA Games tổ chức tại Philippin. Tuy thành tích đứng ở vị trí thứ 7/10 nước Đông Nam Á, nhưng cũng đã lập được các kỷ lục Quốc gia mới.

Cho đến nay qua các SEA Games 17, 18, 19, vị trí bơi lội Việt Nam vẫn chỉ xếp ở hàng thứ 7 và chưa dành được 1 huy chương bơi lội nào. Điều đó đòi hỏi Hiệp hội thể thao dưới nước cũng như mỗi cán bộ huấn luyện viên cần phải phấn đấu rất cao mới có thể đưa được nền bơi lội nước ta sánh vai với các nước khu vực và châu lục.

error: Content is protected !!
%d bloggers like this: